Tình Yêu Và Đời Sống - Gia Đình

Tinh Yeu Gia Dinh

Ngoại Tôi

NGƯỜI ĐÃ XONG CUỘC CHẠY – ĐÃ GIỮ ĐƯỢC ĐỨC TIN
Chiếc xe đạp sườn ngang màu đen - mà chúng tôi hay ví sánh là con ngựa sắt của Ngoại tôi – dừng lại ở trước sân nhà, Ngoại tôi bước vào, đầu đội chiếc nón dạ màu đen, gọn gàng trong bộ đồ quần tây, áo sơ-mi, lớn tiếng gọi:

Ở nhà  sau, chị em  tôi chạy ùa lên, ôm lấy ông và chào ông thật to…

Vừa nói Ngoại vừa lấy mấy cái bánh trong túi xách ra cho chị em tôi mỗi đứa một cái.
….
“Đi làm chứng đạo” những từ ấy đối với tôi lúc ấy thật là to tát lắm, tôi nhìn Ngoại ngưỡng mộ vô cùng, tôi quan sát Ngoại ăn mặc thật là “lịch sự”, trên chiếc xe của Ngoại có gắn một chiếc cặp da đen thật to, Ngoại lấy ra trong đó cho chúng tôi xem những sách chứng đạo nhỏ, nhiều lắm, Ngoại nói là để tặng nó cho  những người Ngoại đã làm chứng.  Ngày nào cũng vậy, con ngựa sắt đen cùng với Ngoại trải qua  mọi nẻo đường của thành phố Đà Nẵng và An Hải, cùng với những bước chân ấy, hạt giống Tin Lành được rải ra…


Ngoại tôi sinh ngày 10-03-1905, trong một gia đình tin kính Chúa tại thành phố Đà Nẵng – nơi được mệnh danh  là “cái nôi của Tin Lành” – và thật vậy, bởi vì ông bà cố của tôi cũng là những tín hữu đầu tiên của hội thánh khi Tin Lành được truyền đến Việt Nam trong những ngày đầu ấy (Ông Cụ Cố của tôi, cụ Nguyễn Hữu Vinh, là một trong những Chấp sự đầu tiên của Tổng Liên Hội - Hội Thánh Tin Lành Việt Nam.)
Khi còn thanh niên Ngoại đã đi học Lời Chúa tại trường Kinh Thánh Đà Nẵng,  đến khi ra trường những mong được  dâng mình hầu việc Chúa theo tiếng gọi thiêng liêng, thế nhưng lúc ấy gia đình buôn bán, Ngoại tôi lại là con trai lớn trong nhà, không có ai thay cha mẹ lo cho công việc buôn bán của gia đình, Ngoại tôi đành phải xếp ước mơ của mình, ở lại nhà phụ giúp cha mẹ. 


Dù  bận rộn với công việc hàng ngày, nhưng tấm lòng nóng cháy phục vụ Chúa, yêu thương linh hồn hư mất trong Ngoại vẫn không hề phai nhạt. Bằng cách này hay cách khác, tận dụng mọi cơ hội, Ngoại làm chứng về Chúa cho tất cả những người Ngoại được tiếp xúc, đôi lúc đó là những khách hàng của Ngoại, có khi là những hàng xóm láng giềng, có khi lại là những người chưa từng quen biết.  Ngoại cứ  hàng ngày như thế, tại nhà hoặc đạp xe đến các nơi công cộng tìm dịp tiện để làm chứng đạo, phát truyền đạo đơn, Ngoại cứ làm như thế mặc cho ai có nghe hay không… như lời Chúa dạy: “Hãy giảng đạo, cố khuyên bất luận gặp thời hay không gặp thời…”


Ngoài ra, Ngoại còn có một tấm lòng yêu thương và tiếp đãi tất cả các tôi tớ, con cái Chúa thật là nồng hậu.  Mẹ tôi kể rằng lòng Ngoại lúc nào cũng nghĩ đến các con cái Chúa, nhất là lúc đó có nhiều thầy cô dâng mình đi học Trường Kinh Thánh tại Đà Nẵng, mỗi chiều thứ 7, họ được nghỉ, có dịp đi ra ngoài thì Ngoại lại mời họ về nhà ăn uống, thông công, ai có cần gì, Ngoại sẵn sàng biếu xén, giúp đỡ; áo quần Ngoại đang mặc mà thấy những ai mặc đồ cũ hoặc rách là Ngoại lấy đồ của mình ra cho hết, lòng Ngoại luôn nghĩ đến, yêu thương và trân trọng những người hầu việc Chúa lắm.
Năm 1975, biến cố lớn của đất nước, Ngoại phải từ giã chốn làng quê thân thương của mình, cùng với con cháu vào Sài Gòn.  Trên đường đi, gặp biết bao nguy hiểm, đe dọa tính mạng; nhưng có Ngoại bên cạnh chúng tôi thật an lòng, Ngoại luôn đọc Kinh Thánh, hát Thánh ca để khích lệ chúng tôi, “Cầu Thần Linh luôn tín thành ôi, Linh soi sáng đưa đường chúng tôi, Nguyện cầm tay đưa lữ hành đây băng qua lối sa mạc cát bay, khiến thống tâm nên lòng hỉ hoan, lúc lắng tai nghe tiếng yêu đang, rằng này con vơ vẩn dặm xa, theo Ta dắt đưa về cố gia….”. Ngoại cứ hát và cầu nguyện, mặc cho sóng gió, ba đào vây bủa.  Thật vậy, chúng tôi lúc ấy như những đoàn lữ hành không phải trong sa mạc mà là trên biển cả, đối mặt với sóng gió, bão tố… nhưng theo gương Ngoại, chúng tôi cũng kêu cầu với Chúa trong lúc gian nan ấy và Chúa đã nhậm lời cầu xin, đưa chúng tôi vào bến bờ bình an.


Về sau, lúc tuổi già đôi mắt Ngoại bị cườm, không mổ được vì huyết áp cao, Ngoại không còn thấy được nữa, nhưng hàng ngày Ngoại vẫn đọc thuộc lòng Kinh Thánh và hát Thánh ca.  Trong phòng riêng, một mình Ngoại quỳ gối thiết tha cầu nguyện cho hội thánh, cho con cháu, Ngoại không bỏ sót một người nào;  rồi Ngoại lại đọc Kinh Thánh và hát Thánh ca không hề mệt mỏi.  Cho đến tận giờ phút này, tôi vẫn còn nhớ như in hình ảnh của Ngoại, với đôi mắt mù nhưng vẫn cất cao tiếng hát ca ngợi Chúa, vẫn luôn miệng đọc Kinh Thánh và tiếng cầu nguyện của Ngoại vẫn như vang dội trong tâm trí tôi…


Ngoại tôi – cụ Nguyễn Hữu Bôn, một tín đồ lão thành của hội thánh Tin Lành Đà Nẵng và An Hải – bây giờ đã vui hưởng phước  hạnh trong Nước Chúa rồi nhưng sự tin kính Chúa, tấm lòng yêu thương linh hồn tội nhân, yêu thương con cháu, yêu thương những anh em đồng đức tin của Ngoại vẫn mãi là gương sáng cho chúng tôi noi theo.
                                                                                                Thanh Vân
Viết nhân kỷ niệm 100 năm Tin Lành đến Việt Nam

Tháng 6-2011

 

Back to Top

 

Quả Táo Ngày Xưa

Một buổi tối mùa Đông, Ba gọi tôi đến bên cạnh, vuốt những lọn tóc con của tôi, Ba hỏi:

Tôi đáp ngay:

Tôi khẽ lắc đầu, ngơ ngác nhìn Ba. Không để tôi đợi lâu, Ba cười:

Nói xong Ba kéo tôi vào lòng, xin lỗi tôi vì đã quên mất ngày quan trọng của tôi và Ba tặng cho tôi một quả táo đỏ, thật to – quả táo mà ngày thường trong bữa ăn, mẹ chỉ cắt cho mỗi người một miếng thôi. Tối hôm đó tôi đã cảm thấy vui hơn bao giờ hết. 
Đã mấy mươi năm trôi qua rồi mà tôi vẫn nhớ như mới ngày hôm qua.
Dù không được sống gần Ba nhiều, nhất là khi tôi bước vào tuổi thiếu niên thì Ba đã xa chúng tôi vì phải đi học tập cải tạo – mười hai năm trong chốn ngục tù CS –  nhưng niềm tin của Ba nơi Chúa, cách Ba đối diện với những hoạn nạn, cùng khốn đã hun đúc trong tôi một niềm tin mạnh mẽ, một tấm lòng sắt son với Chúa. Ba luôn nhắc nhở chúng tôi: “Hãy vui mừng trong sự trông cậy, nhịn nhục trong hoạn nạn, bền lòng mà cầu nguyện”.
Có lần viết thư cho tôi, Ba đã nói: “Tên của con là mây xanh, mây xanh không phải là mây mù, không phải là rán chiều đỏ lửng, nhưng là một vầng mây hy vọng màu xanh”. Tôi đã khóc khi đọc những lời ấy. Tôi biết Ba không chỉ nói với tôi nhưng cũng nhắc nhở chính mình trong hoàn cảnh tù đày, xa cách người thân yêu – luôn hy vọng, luôn trông đợi Chúa.
Ba tôi không hoàn hảo (bởi vì chẳng có ai hoàn hảo cả). Nhưng Ba đã nêu gương cho tôi rất nhiều trong cuộc sống. Khi làm việc với tinh thần trách nhiệm, khi giúp đỡ mọi người cần đến mình... tôi luôn nhớ đến Ba tôi – một người năng động, hăng hái, tích cực, hay giúp đỡ mọi người.
Bây giờ Ba đã già yếu rồi, căn bệnh Alzheimer đã cướp đi tất cả những ký ức của Ba, những cái nhìn vô hồn, xa xăm, những câu nói bâng quơ...thương Ba chi lạ. Nhưng điều lạ lùng là dầu Ba quên rất nhiều thứ nhưng Ba vẫn không quên lời Chúa, bài hát Thi Thiên 23 nghe Ba hát mà lòng tôi rưng rưng.

Tôi yêu Ba nhiều lắm. Tôi cám ơn Chúa vì Ba. Kỷ niệm về Ba luôn là hành trang cho tôi trong bước đường đời.

 

Back to Top

 

8 Lời Nói Dối Của Mẹ

Thuở nhỏ, gia đình cậu bé rất nghèo, tới bữa, chẳng mấy khi có đủ cơm ăn, mẹ liền lấy cơm ở trong chén mình chia đều cho các con. Mẹ bảo: Các con, ăn nhanh đi, mẹ không đói ! ——>
Mẹ nói câu nói dối đầu tiên.

Khi cậu bé lớn dần lên, người mẹ tảo tần lại tranh thủ những ngày nghỉ cuối tuần, đến những vùng đầm hồ ven đô bắt cá về cho con ăn cho đủ chất. Cá rất tươi, canh cá cũng rất ngon. Khi các con ăn thịt cá, mẹ lại ngồi một bên nhằn đầu cá. Lấy lưỡi mà liếm những mảnh thịt sót lại trên đầu cá. Cậu bé xót xa, liền gắp miếng cá trong bát mình sang bát mẹ, Mẹ không ăn, lại dùng đũa gắp trả miếng cá về bát cậu bé. Mẹ bảo: Con trai, con ăn đi, mẹ không thích ăn cá.——>
Mẹ nói câu nói dối thứ hai.

Lên cấp 2, để nộp đủ tiền học phí cho cậu bé và anh chị, Vừa làm thợ may, mẹ vừa đến Hợp tác xã nhận vỏ hộp diêm về nhà ngồi cặm cụi mà dán vào mỗi tối, để kiếm thêm chút tiền chi tiêu cho gia đình. Một buổi tối mùa đông, nửa đêm cậu bé tỉnh giấc. Thấy mẹ vẫn còng lưng dán vỏ bao diêm bên cạnh chiếc đèn dầu. Cậu bé nói: Mẹ à, mẹ đi ngủ thôi, sáng ngày mai mẹ còn phải đi làm nữa mà. Mẹ cười nhẹ: Con trai, đi ngủ đi. Mẹ không buồn ngủ !——>
Mẹ lại lần thứ ba nói dối.

Ngày thi vào trung học, mẹ xin nghỉ làm, Ngày nào cũng đứng ở cổng trường thi, làm chỗ dựa tinh thần cho cậu bé đi thi. Đúng vào mùa hạ, trời nắng khét tóc. Người mẹ nhẫn nại đứng dưới cái nắng hè gay gắt chờ con suốt mấy tiếng đồng hồ. Tiếng chuông hết giờ đã vang lên. Mẹ nghiêng người đưa cho cậu bé bình trà đã được pha sẵn, dỗ dành cậu bé uống, bình trà nồng đượm, tình mẹ còn nồng đượm hơn. Nhìn thấy bờ môi khô nẻ và khuôn mặt lấp lánh mồ hôi của mẹ, cậu bé liền đưa bình trà trong tay mời mẹ uống. Mẹ bảo: Con uống nhanh lên con. Mẹ không khát !——>
Mẹ nói dối lần thứ tư.

Sau khi Cha lâm bệnh qua đời, Mẹ vừa làm Mẹ vừa làm Cha. Vất vả với chút thu nhập ít ỏi từ nghề may vá. Ngậm đắng nuốt cay nuôi con ăn học, cái khổ không lời nào kể xiết. Có chú Lý ngồi sửa đồng hồ dưới chân cây cột điện đầu ngõ biết chuyện, việc lớn việc nhỏ chú đều tìm cách qua giúp một tay. Từ chuyển than, gánh nước, giúp ít tiền cho gia đình cậu bé tội nghiệp. Con người chứ đâu phải cây cỏ, lâu rồi cũng sinh tình cảm. Hàng xóm láng giềng biết chuyện đều khuyên mẹ tái giá, việc gì phải một mình chịu khổ thế. Nhưng qua nhiều năm mẹ vẫn thủ thân như ngọc, kiên quyết không đi bước nữa. Mọi người có khuyên mẹ kiên quyết không nghe. Mẹ bảo: Mẹ không yêu chú ấy. ——>
Mẹ nói dối lần thứ 5.

Sau khi cậu bé và các anh chị cậu tốt nghiệp đại học đi làm. Mẹ nghỉ hưu rồi nhưng vẫn tiếp tục làm những việc lặt vặt ở chợ để duy trì cuộc sống. Các con biết chuyện thường xuyên gửi tiền về để phụng dưỡng mẹ. Mẹ kiên quyết không nhận, tất cả tiền con gửi về mẹ đều gửi trả. Mẹ bảo: Mẹ có tiền mà! ——>
Mẹ nói dối lần thứ 6.

Cậu bé ở lại trường dạy 2 năm, sau đó thi đỗ học bổng học thạc sỹ ở một trường đại học danh tiếng của Mỹ. Sau khi tốt nghiệp cậu ở lại làm việc tại một công ty nghiên cứu máy móc. Sống ở Mỹ một thời gian, khi đã có chút điều kiện. Cậu bé muốn đưa mẹ qua Mỹ sống để phụng dưỡng mẹ tốt hơn. Nhưng lại bị mẹ từ chối. Mẹ bảo: Mẹ không quen! ——>
Mẹ nói dối lần thứ bảy.

Nhiều năm trôi qua, mẹ lâm trọng bệnh, phải vào viện điều trị. Khi con trai đáp máy bay từ nơi xa xôi về thăm mẹ, mẹ già đi nhiều và yếu quá rồi. Nhìn mẹ bị bệnh tật dày vò đến chết đi sống lại, thấy con trai đau đớn vì thương xót mẹ. Mẹ lại bảo: Con trai, đừng khóc, mẹ không đau đâu. ——>

Đấy là lần nói dối cuối cùng của mẹ !!!

 

Back to Top