Những Mẫu Chuyện Hay

Chuyen Hay Image

 

Xuân Quê Hương

Sáng nay dậy sớm đi làm, lái xe khỏi ngả ba rẽ phải là con đường dài thẳng tắp, hai bên hoa Anh Đào nở rộ một màu hồng.  Sáng nay mưa phùn, mưa xuân… thì thầm nhẹ nhàng còn mờ trong màn sương, phải quạt kín xe mới thấy đường lái. Từ xa đàn chim én bay về tíu tít trên những cành đào, chúng tìm thức ăn.  Sáng sớm đã có tiếng chim ca líu lo ngoài phố, tươi mới rộn ràng.  Mùa xuân đã về, mùa xuân Lancaster.


Xuân là cái gì đó hoàn toàn mới, từ đất đai cây cối cho đến con người dường như được sống lại sau ba tháng chết mòn của giá rét mùa đông.  Hạt mưa xuân nhẹ nhàng, mưa bụi đượm nhuần cho đất đai cây cối đâm chồi nảy lộc.  Những nụ đào, nụ mai chuẩn bị sẵn sàng khoe sắc, tỏa hương… Nàng xuân sang trọng trong chiếc áo hồng, trắng tinh khiết như các nàng dâu trải rộng Sarê trước thềm ngày cưới.  Mưa bay phơi phới trong những làn khói mơ còn chưa tan khiến các cô gái tuổi trăng tròn thường chống cằm bên cửa sổ rồi thả hồn theo mơ.  Mơ làm chú chim bé bỏng để bay khắp nơi, mơ có chiếc áo sarê trắng đội lúp trắng điểm vài bông bebe trắng, giày trắng, bó hoa hồng trắng.  Mơ từ xa một chàng hoàng tử cưởi bạch mã từ trong rừng đào lao nhanh đến nơi hẹn hò bên bờ sông đầy hoa đào rơi, rồi phút chốc ấy hai người cầm tay nhau chàng nâng nhẹ nàng lên yên bạch mã dạo chơi ngắm cảnh đối đáp làm thơ, rồi cất lên tiếng ca bài ca trữ tình của đôi uyên ương…  Tôi cũng mơ trong thời ấy, mà có giấc mơ nào thành đâu.  Đến bây giờ cũng còn mơ nữa đây, nhưng mơ một cách thực tế không lãng mạn xa vời… Nhớ! lời Mục sư Huệ khích lệ: “hãy tạo cho mình những giấc mơ và xin Chúa cho nó chắp cánh bay xa khắp nơi trên thế giới”.  Tôi mơ gì để rồi chắp cánh bay xa!?  Giấc mơ Chúa có OK không? lát nữa cuối bài sẽ bật mí nhé các bạn.


Mùa xuân là tháng ngày đẹp mang nhiều cảm xúc cho bao thi sĩ, nhạc sĩ… bao nhiêu bài thơ, bài ca tôn vinh cái đẹp của muà xuân rộn ràng như chào đón một tình yêu mới, một tình yêu vừa chớm nở, đầy cảm xúc ngọt ngào.  Nhà thơ Nguyễn Du miêu tả mùa xuân với sắc màu của cỏ non trải dài như tấm thảm đến chân trời, đất trời hoà điệu một màu xanh.  Hoa lê trắng muốt điểm xuyến trên cao…tạo nên một bức tranh xuân vừa đến còn rón rén như một tình yêu thương thầm nhớ trộm chưa hề mở lời để ý ngắm nhìn từ xa.


Cỏ non xanh rợn chân trời
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa


Nhà thơ Nguyễn Bính thì mùa xuân trong không gian mát dịu mưa bay phơi phới quyện vào làn gió ấm áp từ trên cao.  Hoa xoan không phải lưa thưa, lác đác mà lớp lớp đầy sân.

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay
Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy


Nhà thơ Hàn Mặc Tử đưa chúng ta vào một mùa xuân có ánh nắng sưởi ấm làn khói mơ.  Nắng xuân vàng trên mái nhà tranh.  Không gian thật yên tĩnh mới nghe rõ sột soạt của tà áo. Giàn thiên lí trổ hoa trong nắng xuân.


Trong làn nắng ửng: Khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trên tà áo biếc
Trên giàn thiên lí.  Bóng xuân sang.


Mùa xuân đến không chỉ riêng đất nước Việt Nam mà khắp nơi trên thế giới, những nơi nào thuộc khí hậu ôn đới như Bắc Mỹ, Châu Âu, Úc Châu, vài nơi Á Châu thì mùa xuân rất rõ nét và đẹp vô cùng.  Washington DC thuộc Đông Bắc nước Mỹ có những mùa xuân trên cả tuyệt vời!  Vườn… ồ không ! gọi là “Rừng Anh Đào” thì đúng hơn.  Bạn ơi, nếu sống ở Mỹ mà chưa một lần đến ghé thăm thì uổng cuộc đời lắm đó.  Rừng Đào rực rỡ vào khoảng trung tuần tháng tư, khi đến đừng quên mang theo máy ảnh và máy quay, bạn có thể làm bộ sưu tập hoa đào tung ra thị trường hay những video clip cho các bài ca xuân còn giang dở, hoặc bạn có thể làm một tài liệu nghiên cứu…vv… Tôi rất thích nơi này, mỗi lần bước chân đến thì con tim rung lên những bài ca xuân, các nàng hồng trắng tím trùm kín tôi hớp hồn tôi.

 

Xuân về hoa đào rụng đầy như xác pháo, làm tôi miên man nhớ về ngày Tết quê hương.  Người Việt Nam có Tết là muà xuân, Tết Việt Nam hay Tết cổ truyền ảnh hưởng bởi văn hoá phong tục Trung Hoa.  Mặc dù sống ở Mỹ gần 10 năm nhưng nhắc đến Tết thì có nhiều kỉ niệm khó quên, nó gắn liền cuộc đời từ thời ấu thơ, nó là cuộc sống, văn hoá, là món ăn tinh thần, là cái gì đó rất riêng chân chất thắm đượm tình quê.  Làm sao quên!
Quý cụ cao tuổi thường mong chờ ngày Tết con cháu về sum họp, thăm viếng quây quần bên mân cơm, bánh chưng ngày Tết


Mồng một thì ở nhà cha
Mồng hai  nhà vợ, mồng ba nhà thầy


Người Việt quen tinh thần “tôn sư trọng đạo”, “tiên học lễ, hậu học văn”, đó là tinh thần kính trọng ông bà cha mẹ là những bậc sanh thành trưởng dưỡng.  Kính trọng thầy người dạy chữ nghĩa truyền đạt bao nhiêu kiến thức,  bên cạnh đó tình thầy trò gần gũi thân thiện… Khi đến nhà ông bà cha mẹ hay bất cứ gia đình nào hoặc nhà có khách thì những người trẻ luôn luôn khoanh tay cúi đầu và đến từng người “cháu chào ông, chào bà, chào cô…”  Có khi chào cả họ hàng cả chục người mà vẫn phải giữ lễ giáo, không được nói “cháu chào cả nhà” như thế thiếu trân trọng chào hỏi có gì mà tiếc lời lẽ mẹ tôi thường bảo vậy.  Lễ nghĩa đã ăn sâu vào lòng người Việt qua bốn ngàn năm lịch sử.


Gia đình tôi tuy sống ở Sài Gòn, nhưng ăn Tết ba miền đầy đủ các loại thức ăn: bánh chưng, thịt đông, giò chả, bánh cốm Huế, thịt kho trứng, măng nấu giò heo… vì Bố tôi người Bắc, Mẹ người Huế, sống ở Sài Gòn thành ra Tết ba miền gom lại cũng hay.  Chính vì thế mà tôi biết nhiều món ăn lạ và cũng tập tành nấu cho gia đình.  Thường thì hai mươi bảy tôi giúp Mẹ gói bánh chưng, món ăn một năm một lần thich thú lắm.  Mỗi lần còn chiếc bánh cuối cùng thì tôi chẳng muốn ăn, sợ hết, để tủ lạnh rồi ngắm nhìn, có khi để qua rằm mới xơi đấy…Có bao giờ được thức đêm, duy lần này thử thức bên mấy cục gạch ngọn lửa hồng, nồi bánh cao chồng ngồng khói bay nghi ngút thơm lừng, rồi chị em tâm tình câu chuyện vui của năm cũ hàn huyên cho đến sáng. 


Tết đến Mẹ may hai chị em chiếc quần trắng kem và áo đỏ, không chỉ thế thôi mà khăn trải bàn đỏ màn đỏ bao lì xì đỏ quả dưa hấu đỏ cành mai điểm thêm mấy tấm phước lộc thọ đỏ.. đâu đâu cũng màu đỏ, gam màu may mắn phước lộc… Ờ mà cũng lạ, vì sao người Việt thích màu đỏ trong khi các quốc gia khác thích gam màu dịu hay màu lạnh.  Màu đỏ rực rỡ màu nóng… màu huyết Chúa Giê-xu mà, huyết Chúa nhiệm mầu ban phước ân hạnh phúc cho chúng ta.  Dân Isơraên ngày xưa cũng có ngày mười bốn tháng giêng Lễ Vượt Qua, tất cả cửa cái phải bôi huyết chiên con, khi ấy Đức Chúa Trời ghé qua thì chúc phước cho gia đình đó.  Ngày đầu năm mà có lời chúc phước ban phước thì vui biết bao phải không bạn!


Thời ấy, đêm giao thừa pháo nổ khói mịt mờ, tôi và ông anh thích chơi pháo lép, những tép pháo dùng búa đập nhẹ nổ lách tách.  Mỗi nhà đều có ít nhất dây ba tấc, nhà khá hơn thì đốt cả thước, có pháo đại nổ ầm điến người như lựu đạn, loại này tôi không thích làm tim tôi thót lại…pháo giòn giã thì đủ rồi nhẹ nhàng mang âm hưởng mùa xuân.   Ngày Tết thích lì xì, thích nghỉ học, quần áo mới, đi chơi, thức ăn phủ phê…có lẽ con nít thích nhất, nhưng với người lớn Tết là cả một nỗi lo


Tết đến sau lưng
Ông vải thì mừng
Con cháu thì lo


Người lớn có nhiều nỗi lo ngày Tết nợ nần phải trả hết, thanh toán hết cho năm cũ.  Lo từng cái ăn mặc, lo trong lo ngoài, trên dưới quà cáp “đền ơn đáp nghĩa”, để năm mới mọi sự khởi đầu tốt đẹp.  Mẹ tôi luôn dạy bốn chị em cuối năm gửi quà cho ông bà nội ngoại, quà cho thầy dạy học con mình, quà cho Xếp.  Nếu có khả năng quà cho người nghèo khó nào đó thì một chút chia xẻ cũng đủ ấm tình người.  Nếu còn thù vặt thì phải bỏ hết cay đắng, giận hờn, buồn phiền… kết thúc năm cũ bước vào ngày đầu năm mọi sự tốt lành vui vẻ, sức khỏe, hòa bình, thịnh vượng… những sự cũ đã qua đi, này mọi sự đều trở nên mới.


Có những ngày xuân vui như các buổi nhóm đầu năm được nghe câu chuyện làm chứng lời cảm tạ về ơn Chúa trong năm qua đầy phước hạnh, dù lời lẽ rất ngắn gọn nhưng nét mặt tâm hồn sáng tươi chứa đầy cảm xúc chân thật.  Cụ Tư Khá là trưởng lão lớn tuổi nhất trong hội thánh, luôn luôn tiên phong đầu tiên trước micro cảm ơn Chúa cho sức khoẻ dồi dào, con cái yêu mến Chúa, còn trí nhớ để đọc và thuộc Kinh thánh mỗi ngày và cuối cùng cụ luôn gửi hội thánh một câu gốc.  Hình ảnh cụ như tấm gương sống đạo và kính Chúa, khiến tôi luôn cảm phục và được nhắc nhở.  Khi đến nhà thăm chúc Tết cụ, cụ thường khuyên bảo các con phải chăm lo học lời Chúa, yêu Chúa, hầu việc Chúa, siêng năng…  vì khi về già như cụ thì muốn làm mà chẳng được đôi khi gây phiền toái cho con cháu, nhưng cụ luôn nói lời Chúa cho chúng nó nghe khi nghe rồi chúng im lặng và làm theo. 


Không thể quên những ngày thăm viếng chúc Tết.  Có lần sáng mồng hai tôi và các anh thanh niên lái xe đường dài vào Bình Trị Đông thăm một gia đình nọ. Phải qua hai cây cầu sắt, theo đường mòn đất đỏ dọc theo con sông, khi xe dừng lại trước một ngôi nhà, ồ không ! không phải nhà mà túp lều tranh hai quả tim vàng và một thằng nhóc 2 tuổi.  Bước vào nhà nhìn dáo dác rồi tôi cố nghẹn cho nước mắt chảy ngược vào trong, đầu năm mà khóc lóc thì người ta mắng cho. Ngồi nói chuyện một hồi tôi cảm nhận tình yêu của hai vợ chồng dành cho Chúa thật thắm thiết, anh chị không hề phàn nàn về cuộc sống mà bảo “Chúa cho…Chúa cho…Chúa làm…Chúa thương…” rồi anh đọc những câu Kinh thánh mà anh thuộc từ hồi nào trong khi vừa làm báptem chưa tròn ba tháng.  Anh còn ca nhà xiêu vách nát, kèo cột lung lay, Giê-xu ngự vào hoá thiên cung ngay. halelugia… Chúng tôi chúc Tết cầu nguyện và gửi anh chị quà, chỉ là món quà cỏn con thôi thế mà anh chị vui mừng như chưa bao giờ nhận quà rồi xúc động rươm rướm nước mắt.  Ngày Tết quê hương sao thắm đượm tình!


Xin mượn lời ca của anh Thủ Chí sáng tác trước đây để gửi Tâm Sự Đầu Xuân đến các ông bà anh chị em:


Giòng thời gian trôi,
Như cái bóng câu hút qua cửa sổ,
Chợt biến đi
Sẽ không thể trở lại giúp ta ăn năn điều chi
Ngày đâu xuân sang
Những giây phút năm mới ta đón lấy
Từ ơn Cha trên cao Chúa nhân từ

 

Trong ơn Chúa yêu thương ngày qua
Tay Chúa chăm nom ta ngày đêm
Còn đâu thiếu thốn chi
Chương trình mọi suy tính cho tương lai
Nguyện hiến Chúa quản cai cả cuộc đời
.
Người bạn thân yêu ơi
Cầu chúc thắm thiết gửi bạn đấy nhé
Nguyện Chúa Xuân
Kết bông trái Thánh linh luôn tươi thơm ngát hương
Từng bàn chân xuân xanh
Tia sáng thánh khiết Chúa soi bước
Đừng hồ nghi
Đặt niềm tin phó hết cho Ngài

 

Vị vua khôn ngoan của lịch sử viết trong Nhã Ca về mùa xuân cũng rất riêng mang nét đặc thù xứ Do Thái:


Vì kìa, mùa đông đã qua,
Mưa đã dứt hết rồi;
Bông hoa nở ra trên đất;
Mùa hát xướng đã đến nơi,
Và tiếng chim cu nghe trong xứ;
Cây vả đang chín trái xanh tươi của nó,
Và nho trổ hoa nực mùi hương
Hỡi bạn tình ta, người đẹp của ta ơi, hãy chổi dậy và đến!


Chim cu là một loại chim vóc nhỏ hơn bồ câu, chúng biết dời chổ ở tùy theo mùa. Mùa xuân chúng bay về Palestin không chỉ tìm thức ăn thôi mà bởi khí hậu ấm áp.  Nét đặc thù trong câu thơ trên gợi cho chúng ta nghe tiếng chim cu êm dịu tha thiết không xôn xao tíu tít như đàn én.


Vả và nho là hai loại cây tiêu biểu được trồng khắp xứ đất nước này.  Cây vả lá lớn dày, đến nổi vợ chồng ông Ađam và Êva lấy vả đóng khố che thân, bóng cây sum suê có thể che mắt con người.  Hàng năm cuối đông lá rụng hết cho đến tháng ba nảy mụt trái ở bên lộc non, lá dài và quả cũng vậy, đến tháng sáu cuối xuân trái chín gọi là trái vả đầu mùa nhẫn nhẫn vị rất ngon.


 Đặc biệt khắp xứ Palestin đều có nho vì đất và khí hậu thích hợp trồng nho.  Thời Cựu ước Môise kêu gọi mười hai thám tử đi do thám xứ, họ đến khe Ếchcôn, cắt tại đó một nhành nho có một chùm nho; và hai người khiêng bằng cây sào mới nổi. Vườn nho trổ hoa vào tháng ba, tháng tư…ngợp mùi hương.  Thời điểm mà các cô gái hay các chàng thanh niên ra thăm vườn, chăm sóc vườn rủ nhau ca hát nhảy múa nhộn nhịp chào đón mùa xuân mới.  Những câu thơ giản dị nhưng không đơn sơ như chúng ta nghĩ ấy là một cách tả cảnh của Salômôn nhưng hàm chứa bao ý nghĩa thiêng liêng.   Vả và nho là hai loại cây nói lên sự no ấm an ổn của con người, nếu cây sai hoa sai quả thì bình an phước hạnh cho quốc dân.  Vườn nho là sự chúc phước dư dật sự ban ơn qúy giá của Đức Chúa Trời dành cho con dân Ngài.


Chúng ta hãy dừng một chút ngẫm nghĩ xem ai đã làm nên mùa xuân? Ai đã vẽ một bức tranh tuyệt diệu chỉ có chín mươi ngày?  Không chỉ mùa xuân thôi đâu mà cả ba mùa còn lại đều có nét đặc biệt khác nhau.  Ai đã cho chúng ta những hoa thơm đủ loại vóc dáng hình hài màu sắc khác nhau, sắc màu tự nhiên.  Ai cho chúng ta những quả ngọt, những vườn rau xanh đầy đủ dinh dưỡng nuôi sống chúng ta một đời, không chỉ thế mà tiếp nối qua nhiều thế hệ nhiều thế kỷ?   Ai đã ban cho chúng ta sự sống?  Có bao giờ bạn tự hỏi như thế không?  Hoặc hỏi cha mẹ, bạn bè… về những câu hỏi mà bao người cho là vớ vẩn?  Chắc chắn một ai đó, một Đấng lạ lùng kì diệu đầy khôn ngoan và quyền năng tạo nên mùa xuân xinh đẹp cho chúng ta hưởng phải không bạn! 


Thật vậy Thượng Đế chính là Chúa Xuân, Ngài là Đấng Tạo hoá sáng lập vũ trụ, Ngài cũng ban cho chúng ta một mùa xuân tươi mới trong tâm hồn để chúng ta có thể chiêm ngưỡng xúc động và viết ra những vần thơ xuân bất hủ như Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Hàn Mặc Tử…, những dòng nhạc tuôn chảy làn điệu du dương trầm bổng của nhạc sĩ như Hoa Xuân của Phạm Duy, Lời Tỏ Tình Của Mùa Xuân của Thanh Tùng, Lạc Mất Mùa Xuân của Dương Thụ…hay Xuân Đến Bên Nhà, Mừng Xuân của Mục sư Lê Phước Thiện,  thể hiện qua các giọng ca vàng mà mỗi lần nghe đến làm con tim chúng ta thổn thức.  Những tấm ảnh lưu niệm ngày xuân trải qua bao tháng ngày không bao giờ phôi pha và kí ức vẫn còn đấy như lời nhắc nhở hay hạnh phúc ngọt ngào.


Mùa xuân đem đến cho tâm hồn chúng ta nhiều ước mơ, hy vọng, tin yêu, một điều gì đó rất mới, có thể tư tưởng mới hướng đi mới hay cuộc sống mới…hoạch định cho năm mới bước vào tuổi mới… Riêng tôi thường hay nghĩ thế, xuân mới kế hoạch mới, hầu việc Chúa một cách mới hơn, … tức là còn vài điều còn ấp ủ trong năm qua để sang năm mới thực hiện và xin Chúa đồng hành giúp đỡ cho nên việc.  Bạn có ước mơ gì không? Tôi chỉ có một ước mơ cỏn con được viết, đựơc đọc ca hát, tập tành sáng tác để rao truyền danh Chúa, đó là niềm đam mê của tôi, tình yêu thiêng thượng làm sao câm nín được phải không bạn!  Tôi tin rằng với niềm đam mê yêu Chúa chắc chắn Ngài sẽ thêm ơn, thêm sức cho tôi và qua bao tháng ngày Chúa đã cho tôi kinh nghiệm điều đó.  Chúa cũng dùng người phối ngẫu bên cạnh âm thầm tận tụy giúp đỡ rất nhiều về mặt kĩ thuật, tư tưởng.

 

Mùa xuân theo năm tháng cũng trôi qua, cụ Nguyễn Du nói thế này khi về già:
Xuân sắc một năm chín chục ngày
Xuân quang phung phí đáng thương thay


Nuối tiếc thời gian khi mỗi năm chỉ có chín mươi ngày xuân.  Cảm thức về thời gian sự tàn phai của đời người trong những ngày xuân sắc qua mau.  Nhưng có một mùa xuân không phai tàn, xuân vĩnh viễn… ấy khi chúng ta ở trong Chúa Giê-xu, Ngài chính là mùa xuân trong tâm linh. Một nhạc sĩ mô tả mùa xuân trong Chúa là tình yêu, mà tình yêu thì vĩnh viễn cho dù chỉ một ngày huống chi trọn đời:


Một ngày đời con có Chúa,
Là mùa xuân mãi mãi không phai tàn.


Nếu bạn cảm thấy mình yếu mòn, buồn phiền, sầu muộn thì xin bạn hãy đến với Ngài bất cứ lúc nào.  Ngài sẵn sàng giang rộng đôi tay ôm bạn chúc mừng bạn.  Chúa Xuân mãi mãi trong tâm hồn và chẳng có quyền lực nào ghanh tị để cướp lấy nó được.  Tôi tin như thế!

 

Mùa hát xướng đã đến nơi…
Hỡi bạn tình ta, người đẹp của ta ơi, hãy chổi dậy và đến!

 

Xem hoa xuân cười,
Nụ tầm xuân chúm chím,
Gió xuân vui đùa,
Mưa xuân nhảy nhót,
Nắng xuân xôn xao…

 

Lời hay ý đẹp
Dành riêng Chúa thôi
Vì Ngài xứng đáng
Để con ca ngợi

 

Hãy đến xem và sáng tác
Trao gửi tình yêu muôn thuở
Trọn cả tấm lòng
Dâng lên Chúa Xuân. 
Amen.

Kim Hân

 

Back to Top

 

 

Cậu Bé Chạm Đến Con Tim

Thi-thiên 90:1-12

 

1 Lạy Chúa, từ đời nầy qua đời kia Chúa là nơi ở của chúng tôi.


2  Trước khi núi non chưa sanh ra, Đất và thế gian chưa dựng nên, Từ trước vô cùng cho đến đời đời Chúa là Đức Chúa Trời.


3  Chúa khiến loài người trở vào bụi tro, Và phán rằng: Hỡi con cái loài người, hãy trở lại.


4 Vì một ngàn năm trước mắt Chúa Khác nào ngày hôm qua đã qua rồi, Giống như một canh của đêm.


5  Chúa làm chúng nó trôi đi như nước chảy cuồn cuộn; chúng nó khác nào một giấc ngủ, Ban mai họ tợ như cây cỏ xanh tươi:


6  Sáng ngày cỏ nở bông và tốt tươi; Buổi chiều người ta cắt nó và nó héo.


7 Thật, chúng tôi bị hao mòn vì cơn giận của Chúa, Bị bối rối bởi sự thạnh nộ Chúa.


8  Chúa đã đặt gian ác chúng tôi ở trước mặt Chúa, Để những tội lỗi kín đáo, chúng tôi trong ánh sáng mặt Chúa.


9  Bởi cơn giận của Chúa, các ngày chúng tôi đều qua đi;  Năm chúng tôi tan mất như hơi thở.


10  Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, Vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi.


11  Ai biết sức sự giận của Chúa? Tùy theo sự kính sợ xứng đáng cho Chúa, ai biết sức sự nóng nả Chúa?


12 Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi, Hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan.


13  Đức Giê-hô-va ơi, xin hãy trở lại. Cho đến chừng nào? Xin đổi lòng về việc các tôi tớ Chúa.


14  Ôi! xin Chúa cho chúng tôi buổi sáng được thỏa dạ về sự nhân từ Chúa, Thì trọn đời chúng tôi sẽ hát mừng vui vẻ

.
15  Xin Chúa làm cho chúng tôi được vui mừng tùy theo các ngày Chúa làm cho chúng tôi bị hoạn nạn, Và tùy theo những năm mà chúng tôi đã thấy sự tai họa.


16  Nguyện công việc Chúa lộ ra cho các tôi tớ Chúa, Và sự vinh hiển Chúa sáng trên con cái họ!

 

17  Nguyện ơn Chúa, là Đức Chúa Trời chúng tôi, giáng trên chúng tôi; Cầu Chúa lập cho vững công việc của tay chúng tôi; Phải, xin lập cho vững công việc của tay chúng

 

 

Back to Top

 

 

Gia Đình Cùng Ăn Tối

Bữa ăn tối ở nhà hàng "Ly Hôn"

 

Lắm khi con người thật lạ, chỉ đến khi hạnh phúc mất đi rồi mới chợt nhận ra mình đã từng thật hạnh phúc, muốn níu giữ lại nhưng… mọi sự cũng đã muộn màng.

Tuy vậy, "hạnh phúc và tình yêu" là thứ vô hình nhưng lại tồn tại mãi với thời gian, nếu con tim ta vẫn còn yêu thương, còn nhung nhớ… thì cảm xúc ấy sẽ trở về.

 

Anh cưới chị được 10 năm. Giữa hai vợ chồng không còn xúc cảm và hứng thú. Anh ngày càng cảm thấy đối với vợ hầu như chỉ còn là trình tự và nghĩa vụ. Anh bắt đầu thấy ngán chị. Nhất là khi company vừa nhận về một người phụ nữ trẻ hết sức sôi nổi và cuồng nhiệt bám lấy anh.

Anh chợt có cảm giác cô ta là mùa xuân thứ hai của anh. Sau nhiều đêm suy nghĩ, anh quyết định ly dị vợ. Chị dường như đã trơ lỳ, bình thản, đồng ý đòi hỏi của anh.

Thủ tục tiến hành rất thuận lợi. Sau khi ra khỏi cửa, anh chị đã trở thành cá nhân độc lập và tự do. Không hiểu sao, anh bỗng thấy trống trải vô cùng, anh nhìn chị nói: “Trời tối rồi, hay là đi ăn cơm đã.”

Chị nhìn anh nói: “Vâng. Em nghe nói gần đây vừa khai trương Nhà hàng Ly Hôn, chuyên phục vụ bữa ăn cuối cùng cho các cặp vợ chồng ly dị. Chúng mình đến đấy đi?”

Anh gật đầu. Hai người, một trước một sau lặng lẽ đi vào Nhà hàng Ly Hôn. Anh chị vừa yên vị trong phòng VIP, người chiêu đãi viên đã bước vào nói: “Anh chị dùng gì ạ?”

 

Anh nhìn chị nói:

-Em gọi đi.

Chị lắc đầu:

-Em ít khi ăn nhà hàng, không quen gọi món, anh gọi đi.

-Xin lỗi, nhà hàng chúng tôi quy định, bữa này do vợ gọi món hàng ngày người chồng thích ăn nhất, và chồng gọi món người vợ thích ăn nhất. Đấy là món “Ký ức cuối cùng.”

 

-Thôi được. Chị hất món tóc xõa trước mặt ra sau, nói: “Gà luộc chấm gia vị nước chanh, đậu phụ rán chấm nước mắm nguyên chất rắc hành thái nhỏ, chân giò luộc chấm mắm tôm, rau cải thảo luộc.”

-Anh gọi gì ạ? Cô chiêu đãi viên nhìn anh. Anh sững người. Lấy nhau 10 năm, anh thật sự không biết vợ anh thích ăn món gì. Anh há hốc mồm, ngồi thừ ra đấy.

-Những món này đủ rồi, đều là món chúng tôi thích nhất. Chị vội chữa thẹn cho anh.

Người chiêu đãi viên cười:

-Thực tình mà nói, đến nhà hàng chúng tôi ăn bữa cơm cuối cùng, các anh các chị đều không thể nuốt trôi. Hay là anh chị đừng dùng món “Ký ức cuối cùng” nữa, hãy dùng bữa tối nhà hàng đặc biệt làm cho vợ chồng ly hôn: Đồ uống ướp lạnh. Những người đến đây, không có ai từ chối sự lựa chọn này.

Anh chị gật đầu:

-Được!

Chốc lát, cô phục vụ mang đến hai phần ăn ướp lạnh. Trong hai phần ăn, có một phần xanh lơ, toàn đá đập vụn; một phần đỏ tươi, còn đang bốc khói.

-Bữa tối này gọi là “một nửa ngọn lửa, một nửa nước biển”. Mời anh chị thưởng thức. Cô chiêu đãi viên nói xong lui ra.

Trong phòng ăn im lặng như tờ, anh chị ngồi đối diện, nhưng không biết nói gì với nhau.

 

-Cộc cộc cộc! Có tiếng gõ cửa nhẹ nhàng. Cô chiêu đãi viên đi vào, tay bưng chiếc khay có một bông hồng đỏ tươi, nói: “Anh còn nhớ cảnh tặng hoa cho chị đây không? Bây giờ, khi mọi việc đã kết thúc, không còn là vợ chồng, nhưng là bạn. Bạn bè gặp nhau vui vẻ rồi chia tay, anh tặng chị bông hồng cuối cùng đi.”

Chị rùng mình, trước mắt hiện ra cảnh anh tặng hoa chị 10 năm về trước. Hồi đó, anh chị vừa đến thành phố xa lạ này, hai bàn tay trắng, bắt đầu xây tổ ấm từ số không. Ban ngày, anh chị đi tìm việc làm, ban đêm chị ra hè phố bán quần áo. Anh vào nhà hàng rửa bát. Nửa đêm mới về đến gian nhà thuê chưa đầy 10 mét vuông. Đời sống khổ cực, nhưng anh chị thấy vui, thấy hạnh phúc.

Ngày Tình Yêu (Valentine) đầu tiên ở thành phố này, anh mua tặng chị bông hồng đầu tiên, nước mắt chị chảy dài trên má vì sung sướng quá. 10 năm rồi, cuộc đời đã giàu lên, thế mà anh chị lại chia tay nhau. Càng nghĩ, chị càng tủi, hai mắt ngấn lệ, xua tay nói: “Thôi, thôi, khỏi cần.”

 

Anh cũng nhớ lại 10 năm qua. Và sực nhớ 5 năm nay, anh không mua hoa tặng chị. Anh vội vẫy tay, nói: “Không, phải tặng.”

Cô chiêu đãi viên cầm bông hồng lên, “xoèn xoẹt” một cái, bẻ làm đôi, ném vào cốc của anh chị, mỗi người một nửa. Bông hồng tức khắc hòa tan trong cốc.

-Đây là bông hồng nhà hàng làm bằng gạo nếp, cũng là món ăn thứ ba gửi anh chị. Mời anh chị thưởng thức. Còn cần gì nữa, anh chị cứ gọi em”. Nói xong, cô quay người ra khỏi phòng.

 

-Em… anh… Anh nắm lấy tay chị, nói không nên lời. Chị rút mạnh bàn tay. Không rút nổi, bèn để yên. Anh chị im lặng nhìn nhau, vẫn không nói nên lời.
-Phụt!” Đèn điện tắt ngấm, trong phòng tối om. Bên ngoài vang lên tiếng chuông báo động đổ dồn, có mùi cháy khét lẹt bay vào.

-Chuyện gì thế? Anh chị vội đứng lên.

-Nhà hàng cháy rồi, mọi người ra ngoài mau, mau lên! Bên ngoài có người kêu thét lên.

 

-Anh! Chị ép vào người anh, “em sợ!”

-Đừng sợ! Anh ôm chặt lấy chị, “Em đừng sợ, có anh ở bên cạnh. Chúng mình chạy ra ngoài đi.”

Ngoài phòng, đèn điện sáng trưng, mọi vật như cũ, không có chuyện gì xảy ra. Cô chiêu đãi viên nói:

-Xin lỗi anh chị, đây là món “Sự lựa chọn từ đáy lòng” của nhà hàng gửi tới anh chị.

Anh chị trở về phòng ăn, ánh sáng chan hòa. Anh cầm tay chị nói:

-Vừa nãy là sự lựa chọn từ đáy lòng của chúng mình thật. Anh cảm thấy chúng mình không thể sống thiếu nhau, ngày mai chúng mình đi đăng ký lại!

Chị cắn môi:

-Anh nói thật lòng đấy chứ?

-Thật! Anh hiểu rồi.

Cô ơi, cho thanh toán…

Cô chiêu đãi viên đi vào, đưa cho anh chị mỗi người một tấm phiếu màu hồng rất đẹp nói:

 

-Đây là phiếu thanh toán của anh chị, cũng là món quà của nhà hàng gửi tặng anh chị, gọi là “Phiếu thanh toán vĩnh viễn”, mong anh chị cất giữ mãi mãi.”

Anh nhìn phiếu, mắt đỏ hoe.

-Anh làm sao thế? Chị lo lắng hỏi. Anh đưa phiếu thanh toán của mình cho chị, nói: “Anh có lỗi với em, mong em tha thứ.”

 

Chị cầm tấm phiếu đọc: “Một gia đình ấm cúng, hai bàn tay làm lụng, ba canh ngồi chờ anh về, bốn mùa dặn anh giữ gìn sức khỏe, năm tháng săn sóc anh chí tình, sáu mươi mẹ già vui vẻ, bảy ngày trong tuần nuôi dạy con cái, tám phương giữ gìn uy tín của anh, chín giờ thường xuống bếp làm món anh khoái khẩu, mười năm hao tổn tuổi xuân. Vì ai… Đó là vợ anh”.

 

- Anh vất vả thật đấy. Mấy năm qua em thờ ơ với anh quá.

Chị đưa phiếu thanh toán của mình cho anh xem. Anh mở ra đọc: “Một mình gánh vác trách nhiệm, hai vai nặng trĩu cơ đồ, ba canh cặm cụi bên bàn, tứ thời chạy ngược chạy xuôi, vinh nhục biết chia sẻ cùng ai, bể dâu khắc sâu đuôi mắt, nghĩa vụ đối với gia tộc, gập ghềnh chông gai con đường công danh, là người phàm tục làm sao mười phân vẹn mười. Lúc nào cũng tận tình với vợ con… Đấy là chồng em”.

Anh chị ôm chầm lấy nhau, oà lên khóc thành tiếng.

 

Back to Top

 

 

Một Hình Ảnh Hai Thái Cực

CÁNH CỬA MỚI

 

Cách đây, hàng thế kỷ, tại một đất nước nọ có một họa sĩ. Anh muốn tạo ra một bứa tranh thực sự tuyệt vời có thể tỏa ra sự thiêng liêng, một bức tranh về một gương mặt có ánh mắt tỏa ra sự bình yên vô hạn. Anh lên đường để tìm kiếm một người nào đó có gương mặt vượt ra khỏi giới hạn của đời sống này, một cái gì đó siêu việt.
Anh lang thang khắp đất nước, hết làng này đến làng nọ, hết cánh rừng này đến cánh rừng khác nhắm tìm một người như thế. Cuối cùng anh gặp một người chăn cừu trên núi có sự ngây thơ trong trắng trong đôi mắt sáng và gương mặt thanh tú với nét siêu linh. Chỉ cần liếc nhìn anh cũng đủ để tin rằng Thượng đế tiềm ẩn nơi nhân loại.

Người họa sĩ vẽ một bức họa về người chăn cừu trẻ tuổi này. Hàng triệu bản sao của bức họa này đã được bán sạch, thậm chí ngay cả ở những khu vực xa xôi. Mọi người cảm thấy hạnh phúc khi có thể treo bức họa này trên tường nhà mình.
Hai mươi năm sau, người họa sĩ đã già, một ý tưởng khác chợt nảy ra trong tâm trí ông. Theo kinh nghiệm sống của ông, nhân loại không hòa toàn ngoan đạo; ma quỷ vẫn tồn tại trong họ. Ý tưởng này làm nảy sinh dự định vẽ một bức tranh nhằm phản ánh hình ảnh ma qủy trong con người. Hai bức họa này, ông nghĩ, sẽ bù trừ cho nhau, đại diện cho toàn nhân loại.

Ở tuổi già, ông lại lên đường tìm kiếm. Lần này ông muốn tìm một người không phải là người mà là ma quỷ. Ông đến các khu nhà ổ chuột, các quán rượu, các nhà thương điên. Người này cần phải có ngọn lửa của địa ngục; gương mặt của nah ta phải thể hiện được nét tàn bạo, xấu xí, ác dâm. Ông tìm kiếm hình ảnh của tội lỗi. Trước đây ông đã vẽ nên hình ảnh về sự hóa thân của loài quỷ dữ.

Sau khi tìm kiếm thật lâu, cuối cùng ông tìm được một tù nhân. Người tù này phạm bảy tội giết người và bị kết án treo cổ trong vài ngày tới. Ngọn lửa địa ngục đang bùng cháy trong mắt hắn; hắn trong giống như hiện thân của tội ác. Gương mặt của hắn là gương mặt xấu xí nhất mà bạn có thể hình dung ra. Người họa sĩ bắt đầu vẽ hắn.
Khi ông hoàn tất bức họa ông mang bức họa trước đây ra đặt bên cạnh để đối chiếu. Nhìn từ góc độ nghệ thuật thì thất khó có thể xác định được bức họa nào tốt hơn bức họa nào; cả hai đều là kiệt tác. Người họa sĩ đứng đó, mắt nhìn trừng trừng vào hai bức họa. Chợt ông nghe thấy tiếng khóc thút thít. Ông quay lại và trông thấy người tù bị xiềng xích đang khóc nức nở. người họa sĩ vô cùng bối rối. Ông hỏi “Này chàng trai, tại sao anh lại khóc? Hai bức tranh này khiến anh buồn sao?”

Người tù đáp “Tôi vẫn luôn cố gắng che đậy một điều trước mặt ông, nhưng hôm nay tôi không thể giấu diếm được nữa. Bức họa thứ nhất cũng là bức họa về tôi. Cả hai bức tranh này đều vẽ khuôn mặt của tôi. Tôi chính là người chăn cừu mà ông đã gặp cách đây hai mươi năm trên ngọn đồi kia. Tôi khóc vì sự suy vong của mình trong suốt hai mươi năm qua. Tôi đã rơi xuống địa ngục, từ thiên đàng xuống địa ngục.”


Cuộc sống con người đều có hai mặt. Trong mỗi con người cả thiên thần lẫn quỷ dữ tồn tại; trong mỗi con người luôn có thiêng đàng lẫn địa ngục Trong mỗi con người luôn tồn tại những bông hoa xinh đẹp lẫn những đầm lầy xấu xí. Mỗi người đều liên tục dao động giữa hai thái cực này, nhưng hầu hết mọi người đều xuất hiện bên bờ địa ngục. rất ít người có đủ may mắn để thiên đàng phát triển trong chính mình.

 

Back to Top

 

 

Hãy Hấp Hôn Trước Khi Hấp Hối

Ai còn vợ, còn chồng sống đầm ấm với nhau là đang hưởng phước. Ngẫm lại, người quan trọng nhất đời của mình chính là người phối ngẫu. Cha mẹ rồi sẽ qua đời, con cái rồi sẽ có gia đình riêng và rời tổ ấm, bạn bè dù thân mấy cũng có đời sống riêng của bạn. Chính người vợ hay chồng là bạn đường mà cũng là bạn đời, có phước cùng hưởng, có họa cùng chịu.

 

Thời kỳ vàng son đầu tiên của hai vợ chồng là lúc mới cưới và chưa có con. Thời kỳ vàng son thứ hai là khi nợ mòn, con lớn, khi con cái rời cha mẹ lập tổ ấm riêng của chúng, khi vợ chồng già về hưu, có thì giờ bên nhau. Ai đang hưởng hạnh phúc này, hãy cảm tạ Thượng Đế và cám ơn nhau bằng những lần hấp hôn. Hấp hôn không cần phải làm linh đình, tiệc tùng mời mọc. Những trình diễn bề ngoài này có thì vui, nhưng không phải là điều cần thiết. Hấp hôn chỉ cần hai người bên nhau, nếu có điều kiện đi xa như hai cụm mây lang thang thì càng tốt, không thì ở nhà với nhau cũng được. Bí quyết là khắng khít, quấn quít bên nhau. Hấp hôn phải được quan niệm như bảo trì (tune-up) chiếc xe hơi. Muốn xe chạy tốt, bảo đảm thì cần bảo trì hằng năm. ChữT.U.N.E.U.P. cho chúng ta nhớ những điểm chính của hấp hôn.

 

T:TIME: thời gian bên nhau để tâm tình, để trò chuyện. Đây là thời gian vô cùng quí báu không nên thiếu. Nên thu xếp thì giờ để tham dự công việc của vợ, hay chồng. Mục sư Joel Osteen kể lại (trong Guideposts April 2012) chuyện vợ ông có mặt trong những bài giảng của ông. Có lần, ông phải giảng đi, giảng lại tám lần cùng một bài giảng. Cả tám lần đều có mặt của bà. Bà luôn chăm chú nghe, luôn cười vui vẻ với những câu chuyện khôi hài ông kể mặc dầu đã nghe nhiều lần. Ô ng nghĩ rằng có thể bà giả vờ, nhưng dù sao cũng khiến ông vui sướng trong lòng vì biết vợ luôn ở cạnh mình.

 

U:UNMASK: ung nhọt cần mổ xẻ. Vợ chồng sống lâu năm với nhau dễ có những điều bằng mặt mà không bằng lòng. Không nên che giấu nữa, không nên im lặng chịu đựng nữa mà cần thành thật đem ra mổ xẻ như mổ cái ung nhọt. Mặc dù có đau đớn nhưng cả hai sẽ lành bệnh và lành mạnh.

 

N:NEW EAR &TONGUE: tập nghe, tập nói ngôn ngữ tình yêu. Xin chép lại 5 ngôn ngữ tình yêu của Gary Chapman:
- Talk (trò chuyện)
- Task (thực hành)
- Time (thời giờ)
- Token (tặng phẩm)
- Touch (thoa bóp)

 

E:ERASE: xóa. “Xóa bàn làm lại”. Làm người ai cũng có những lỗi lầm, những lần làm đau lòng nhau. Hai vợ chồng như hai con nhím, xa nhau thì nhớ, gần nhau thì lông nhím con này châm chích con kia. Hấp hôn là dịp tuyên bố quên hết những lỗi lầm của người phối ngẫu, mà bắt đầu yêu thương và cầu nguyện cho “kẻ thù”. Hấp hôn là lúc cả hai người cùng quyết tâm viết trang mới trong quyển sách chuyện tình đôi ta.

 

U:UNDERSTAND: ưng ý, hiểu rõ nhau. Có người nói: đàn ông thuộc Hỏa tinh, đàn bà thuộc Kim tinh nghĩa là hoàn toàn trái ngược mà nay phải sống chung với nhau. Nhiều cặp vợ chồng sống với nhau mấy mươi năm mà vẫn không hiểu nhau. Nên thường tâm sự, trò chuyện hai người sẽ hiểu nhau hơn.

 

P:PASSION: phấn khích (tình yêu như đám lửa, để lâu sẽ nguội dần, nên cần thêm củi luôn). Để tình yêu không trở nên băng giá, nên nhớ lại, nhắc lại thuở mới yêu nhau. Để nung nóng lại tình yêu, nên xem lại 5 ngôn ngữ tình yêu kể trên.
Chúng ta nên tránh 3 điều dễ làm mất hạnh phúc gia đình là chỉ trích, phàn nàn và so bì. Viết theo tiếng Anh, chúng ta có 3 chữ C: criticizing (chỉ trích), complaining (phàn nàn), comparing (so bì).

 

Nhân sinh quan của người thổ dân hải đảo Hawaii là“Ho’oponopono” nghĩa là hòa giải và tha thứ. Quan niệm này có thể áp dụng để xây dựng hạnh phúc lứa đôi. Bốn điều tâm niệm của họ là:
I’m sorry (Tôi hối lỗi, Lỗi tại tôi)
Forgive me (Tha thứ tôi)
Thank you (Cám ơn)
I love you (Anh yêu em / Em yêu anh)

 

Mỗi người nhận lỗi về mình, chứ không đổ lỗi cho người khác. Họ xin sự tha thứ. Họ nói cám ơn và bày tỏ tình yêu. Các bạn có thể đọc thêm quan niệm sống đẹp tuyệt vời này qua: http://www.ho-oponopono.org/

 

 Các bạn thân của tôi ơi! Nếu vợ chồng bạn thường hay tránh mặt nhau, hoặc gặp mặt nhau là cãi lẫy thì bạn cần hấp hôn rồi đó. Hãy hấp hôn trước khi một trong hai người hấp hối, lúc đó hối hận thì đã muộn. Hơn thế nữa, khi cha mẹ sống vui vẻ, hòa thuận, hạnh phúc thì đó là niềm vui rất lớn cho các con.

 

Back to Top

 

 

Tấm Gương Hiếu Thảo

Chuyện thật:
Một tấm gương hiếu thảo.
Minh Tạo

 

Sáng nào cũng thấy thằng nhỏ cầm cái lon đứng chầu chực trước quán ăn. Tôi để mắt theo dõi thì hễ thấy thực khách vừa kêu tính tiền thì thằng bé chạy vào nhìn vào những cái tô, nếu còn thức ăn dư mứa thì nó vội vã trút vào cái lon rồi chạy ra ngoài đứng ngóng tiếp.
Khi cái lon gần đầy thì nó biến mất, chập sau thấy nó lại có mặt thập thò trước quán tiếp tục. Bàn tôi ngồi thì đứa bé không bao giờ quan tâm tới, vì mỗi sáng tôi chỉ đủ tiền uống 1 ly xây chừng vì tôi cũng nghèo cải tạo mới về sáng nhịn đói ngồi uống cà phê đen như một cái thú hay một cái tật không bỏ được.
Cứ thế, mà hơn một năm tôi mới quen được và tìm hiểu chút ít về hoàn cảnh gia đình của đứa bé. Tôi cố tình làm quen với thằng bé nhờ hôm ấy trời mưa, thằng bé đứng nép vào trong quán. Thằng bé đứng nép vào ngày càng sâu hơn trong quán vì mưa ngày càng lớn chỉ cách tôi chừng độ nửa thước. Tôi vói tay kéo nó ngồi xuống bàn và hỏi nó có thích uống cà phê không ?
Thằng bé lắc đầu lia lịa và nói không uống. Tôi hỏi nó làm gì ngày nào cũng ra đây? và hiện sống với ai? Thằng bé như đoán được rằng: tôi chỉ là người khách ghiền cà phê nặng nên hàng ngày đóng đô ở đây nên nó cũng trả lời nhanh nhẹn rằng:
- “Con sống với ba má con, Ba con đi làm xa còn Má con đi phụ buôn bán ở ngoài chợ…”


Tôi hỏi tiếp:
- “Còn con có đi học không ?”
Thằng bé nói:
- “Con không có đi học… con ở nhà phụ với má nuôi heo…”.
Đó là lý do để nói lên sự hiện diện hằng ngày của nó nơi quán ăn nầy. Nghe thằng bé nói như thế, tôi nói với chị chủ quán ăn giúp cho nó lấy những cơm và thức ăn thừa, và cũng từ đó nó không còn đứng lúp ló ngoài cửa quán nửa. Và nhờ tánh tình hiền hậu thật thà chị chủ quán cho nó vô phụ dọn bàn đề lấy thức ăn dư mang về và cho nó ăn uống để phụ việc. Từ đó tôi và nó gần gũi nhau hơn và thân với nhau lắm.
Có lần thằng bé hỏi tôi:


- “Chú làm nghề gì vậy hả chú?”
Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là ” Chú đang làm thinh”.
Đúng vậy mới cải tạo về mà, vợ con thì đã theo bên ngoại vượt biển hết rồi, nghe đâu đã định cư bên Úc, nay về ở với mẹ già ngày 1 buổi cà phê hai bửa cơm độn qua ngày. Thời gian ngột ngạt chậm chạp trôi qua, may mắn vợ chồng tôi đã bắt liên lạc được với nhau. Thế là những bữa cơm không còn ăn độn khoai củ hay bo bo nữa nhưng vẫn quen cử sáng cà phê quán gần nhà. Không biết chị chủ quán có bỏ bùa mê hay tôi ghiền chổ ngồi mà không bữa nào vắng tôi. Một hôm, tôi đề nghị theo thằng bé về nhà nó chơi cho biết vì nó nói ở cũng gần không xa lắm. Thấy nó do dự và tỏ vẻ sợ sệt, tôi biết ngay nó đang dấu diếm điều gì. Thương nó lắm, tôi dúi tiền cho nó hoài. Mấy hôm sau tôi lẳng lặng đi theo nó khi nó mang cơm và thức ăn dư về nhà buổi trưa. Khi thấy nó lủi vô một cái chòi nhỏ xíu thì tôi thật sự không ngờ. Đứng dưới gốc cây Gòn cách nhà nó không xa tôi thầm nghĩ, nhà chút xíu như vậy gia đình 3 người ở thì chổ đâu mà nuôi heo. Tôi đang đứng suy nghĩ đốt cũng hết mấy điếu thuốc thì thằng nhỏ lục tục xách lon xách nồi đi ra quán để thu dọn thức ăn buổi chiều. Đợi thằng bé đi khuất tôi lò mò đến nơi mà hồi nãy nó vào. Đến đó mới nhìn rõ thì thật ra đâu có phải là nhà, một lõm trống được che dựng lên bằng những phế liệu đủ loại muốn chui vào phải khom mọp xuống. Nghe thấy có tiếng chân dừng lại, có tiếng đàn bà vọng ra hỏi. Tôi trả lời là đi kiếm thằng Tuất, thì nghe giọng đàn ông cho biết nó vừa đi khỏi rồi, và hỏi tôi là ai, mời tôi vào…. Vừa khom người chui vào tôi mới thật sự không ngờ những gì hiển hiện trước mắt tôi.


Người đàn ông hốc hác cụt hai giò tuổi cũng trạc tôi nhưng trông yếu đuối, lam lũ và khắc khổ lắm. Một người đàn bà bệnh hoạn xác xơ cả hai đang ăn những thức ăn thừa mà thằng bé vừa mới đem về. Vừa bàng hoàng, vừa cảm động vừa xót xa, nước mắt tôi bất chợt tuôn rơi mặc dù tôi cố nén…


Từ đó, tôi hiểu rõ về người phế binh sức tàn lực kiệt sống bên người vợ thủy chung tảo tần nuôi chồng bao năm nay giờ mang bịnh ác tính nặng nề thật đau xót. Tôi móc hết tiền trong túi biếu tặng và cáo lui. Về đến nhà tôi vẫn mãi ám ảnh hoàn cảnh bi thương của gia đình thằng bé mà tôi bỏ cơm nguyên cả ngày luôn. Sáng hôm sau ra uống cà phê, thằng bé gặp tôi nó lấm lét không dám nhìn tôi vì nó đã biết trưa hôm qua tôi có tới nhà nó. Nó thì tỏ vẻ sợ tôi, nhưng tôi thực sự vừa thương vừa nể phục nó nhiều lắm. Tôi kêu nó lại và nói nhỏ với nó tại sao không cho tôi biết. Tội nghiệp nó cúi đầu im lặng làm lòng tôi thêm nỗi xót xa. Có khách kêu trả tiền, như có cơ hội né tránh tôi nó chạy đi dọn bàn và tiếp tục công việc thu dọn thức ăn. Hèn gì sau nầy nó để thức ăn dư phân loại đàng hoàng lắm. Tội nghiệp hoàn cảnh của thằng bé mới mấy tuổi đầu mà vất vả nuôi cha mẹ theo khả năng chỉ tới đó. Cha là một phế binh cũ trước 75 cụt hai chân, mẹ thì bị bệnh gan nặng bụng phình trướng to khủng khiếp và cặp chân sưng vù lên đi đứng thật khó khăn, nước da thì vàng mét như nghệ. Thằng bé là lao động chánh trong gia đình, nó có hiếu lắm. Từ đó tôi thường cho tiền đứa bé mua bánh mì cơm gạo về nuôi cha mẹ.


Vợ tôi làm thủ tục bảo lãnh tôi sang Úc. Ngày tôi đi tôi đau xót phải để lại hai nỗi buồn đó là để mẹ và em gái lại quê nhà và không còn cơ hội giúp đỡ thằng bé nữa. Sang Úc định cư, tôi sống tại tiểu bang Victoria mấy năm đầu tôi hết sức cơ cực vì phải vật lộn với cuộc sống mới nơi đất mới và đối với tôi tất cả đều mới mẻ và xa lạ quá. Từ ngôn ngữ đến thời tiết đã làm tôi lao đao không ít. Thỉnh thoảng tôi gởi tiền về nuôi mẹ và em gái không quên dặn em gái tôi chuyển cho thằng bé chút ít gọi là chút tình phương xa.


Mấy năm sau tôi về thăm gia đình, tôi có ghé tìm thằng bé thì nó không còn lấy thức ăn trong quán đó nữa. Tôi mới kể rõ hoàn cảnh thằng bé cho chị chủ quán biết. Chị chủ quán đôi mắt đỏ hoe trách tôi sao không cho chị biết sớm để chị tìm cách giúp gia đình nó. Tôi chỉ bào chữa rằng tại thằng bé muốn giấu không cho ai biết! Tôi ghé vội qua nhà thằng bé thì mới hay mẹ nó đã qua đời vì căn bệnh ung thư gan. Chỉ còn chèo queo một mình ba nó ở trần nằm một góc trông hết sức thương tâm. Hỏi thăm thì mới biết nó đã xin được việc làm đi phụ hồ kiếm tiền về nuôi cha. Chúa nhật tôi tới tìm thằng bé, chỉ mới có mấy năm mà nó đã cao lớn thành thanh niên rất đẹp trai duy chỉ đen đúa vì phơi nắng để kiếm đồng tiền. Tôi dẫn nó trở ra quán cà phê cũ, thấy nó hơi ái ngại, tôi trấn an là bà chủ quán tốt lắm tại không biết được hoàn cảnh gia đình nó. Ra đến quán ăn chị chủ quán năn nỉ nó về làm với chị, dọn dẹp và bưng thức ăn cho khách nhẹ nhàng hơn đi phụ hồ và chị sẽ trả lương như đang lãnh bên phụ hồ, tối về thức ăn thường bán không hết chị cho đem về nhà dùng khỏi phải mua hay đi chợ. Lần đầu tiên tôi thấy nó khóc, chị chủ quán cũng khóc theo làm tôi phải đứng dậy bỏ ra ngoài để khỏi phải rơi nước mắt vì chịu không nỗi. Thằng Tuất vừa khóc vừa nói: “Sao ai cũng tốt với gia đình con hết đó, nhưng vì con đang làm phụ hồ cho anh Năm, anh ấy cũng tốt lắm giúp đỡ gia dình con nhiều lắm, sáng nào cũng mua cho ba con gói xôi hay bánh mì trước khi tụi con đi làm. Con cũng mang ơn ảnh nhiều nên con không thể nghỉ được, con xin lổi”. Không biết thằng Tuất nó nói thật hay nó ái ngại khi quay về chỗ mà ngày nào cũng cầm cái lon chầu chực trút đồ ăn dư về nuôi cha mẹ. Phải thông cảm nó, phải hiểu cho nó, phải cho nó có cái hiện tại và tương lai tốt hơn, đẹp hơn ngày trước. Chị chủ quán vừa gạt nước mắt vừa nói “Bất cứ lúc nào con cần đến cô thì con đừng ngại, cho cô biết nhé “…

 

Đời nầy cũng còn có những hoàn cảnh bi đát ít ai biết đến, và cũng có những đứa con xứng đáng như thằng Tuất. Ngày về lại Úc, tôi đến biếu hai cha con nó hai triệu đồng, thấy nó và ba nó mừng lắm tôi cũng vui lây. Không biết phải giúp gia đình nó như thế nào, tôi chụp hình ba nó, photo giấy tờ ba nó đem về Úc gởi cho Hội cứu trợ thương phế binh bị quên lãng trụ sở ở Sydney. Mấy tháng sau nhận được thư ba thằng Tuất viết qua, ông quá vui mừng khi được Hội bên Úc giúp đở gởi tiền về, ông cho biết suốt bao nhiêu năm qua lần đầu tiên ông thấy được niềm hạnh phúc khi cuộc đời phế binh của ông còn có người nhớ đến. Không biết ông ấy vui bao nhiêu mà chính tôi cũng hết sức vui mừng khi thực hiện một việc làm đem niềm vui đến cho những người phế binh sống hết sức đói nghèo bên quê mẹ. Tôi xin cảm ơn cả hai: người chiến sĩ vô danh sống trong hẩm hiu và Hội cứu trợ thương phế binh đã thể hiện tình người trong công việc hết sức cao cả này.

 

 

Back to Top

 

 

Hạnh Phúc Nhỏ Nhoi

NGƯỜI BẠN ĐÊM GIAO THỪA
 Tâm Không Vĩnh Hữu

Mọi lần, khi vợ chồng tôi cãi vã nhau chẳng đi đến đâu, tôi đều giận lẫy bỏ đi khỏi nhà, khi thì bồng con theo khi thì chỉ đi một mình tay không. Và, anh ấy sẽ chạy theo, đến một chỗ vắng vẻ nào đó mới níu kéo, năn nỉ, xuống nước xin lỗi. Anh ấy luôn luôn là người nhường nhịn, làm hòa trước. Vậy mà lần này, sau cuộc kình cãi kịch liệt, lời qua tiếng lại có phần động chạm tự ái của nhau, tôi giận muốn khùng lên, bỏ đi khỏi căn nhà đang ấm cúng.
Tôi bỏ đi khỏi nhà lần này nhằm vào lúc chẳng còn bao lâu nữa là bước sang năm mới, vậy mới là... giận. Vừa đi, tôi vừa nhìn chừng lại phía sau, hy vọng anh ấy sẽ đuổi theo. Nhưng không, không hề thấy anh ấy. 
Tôi tức giận thêm, khóc tấm tức. Đến một ngã sáu, lèo tèo một vài người thơ thẩn, thỉnh thoảng mới có một chiếc xe rú ga vù đi qua phố thênh thang, tôi đứng lại bần thần, rồi nhìn đồng hồ: 10 giờ 30 phút. Anh ấy đã không tìm tôi, không màng kêu gào tôi về để cùng đón giao thừa với nhau. Bé Mi Mi của tôi chắc vẫn còn đang ngủ say. Còn anh ấy đang làm gì ở nhà? Khui mấy chai rượu Tết uống trước giải sầu ư?
 
Tôi băng qua đường, tiến về phía bùng binh trước một siêu thị lớn đã đóng cửa. Nơi ấy, đang có một cô gái ngồi ủ rũ một mình. Tôi đang muốn có bạn trong lúc đang rối trí, buồn phiền, để mình trút bỏ tâm sự cho nhẹ nhàng, biết đâu đầu óc sẽ sáng suốt, lòng thanh thản. Lỗi của tôi, hay của anh ấy, hay lỗi của cả hai, cần phải có một người ngoại cuộc phán xét.
Cô gái ngước mắt nhìn tôi. Một cô gái mặt hoa da phấn nhợt nhạt, mắt đượm ưu buồn, tóc tai rũ rượi. Tôi ngồi xuống cạnh cô gái thật khẽ khàng. Ném mắt nhìn tôi dò xét, cô gái hỏi với giọng lạnh lùng cộc lốc: 
- Muốn gì? 
- Ngồi chơi. Buồn quá. 
- Không có nhà, không có gia đình để về đón giao thừa à? 
- Có chứ. Nhưng mới gây với ông xã, nên bỏ đi cho khuây khỏa... 
- Một đi không trở lại? 
- Trở lại chứ! 
- Trở lại thì đừng nên bỏ đi. Mất công.
 
Tôi chưng hửng. Cô gái làm tôi kinh ngạc, tôi có cảm tình ngay. Nhìn ngắm cô gái từ mấy lọn tóc đến những móng chân, tôi nhỏ nhẹ: 
- Chị sao ngồi đây? Sao chưa chịu về nhà? 
- Không nhà cửa. Không chồng con. Không bà con dòng họ. Quê nhà thì ở xa quá, tận vùng cao heo hút. Vậy thì về đâu? 
- Vậy à? Xin lỗi... chị làm gì, ở đâu? 
- Nói thẳng ra là làm đĩ!
 
Tôi đoán không sai. Nhưng cách trả lời của cô gái sống sượng quá, phũ phàng quá, làm cho tôi lạnh mình, và cũng chạnh lòng. Tôi ngần ngại hỏi: 
- Không còn chỗ nào để về ăn Tết thật sao? 
- Chỗ nào? Chỉ có nhà trọ, nhà chứa, quanh năm chui nhủi bám víu vào những chỗ ấy mà sống qua ngày. Nhưng bây giờ, tiền hết thì nhà trọ đuổi, nợ nần chưa trả xong, lại thêm tàn tạ héo úa, thì nhà chứa cũng chẳng chịu chứa nữa! 
- Sao người ta tệ bạc vậy? Vắt chanh bỏ vỏ à? 
- Người ta ưu ái cho mấy đứa trẻ măng, mấy đứa tuổi mười tám đôi mươi thậm chí có đứa mới đôi tám. Mình địch không lại tụi nó đâu. Tụi nhỏ bây giờ đông lắm, ở khắp các vùng quê nghèo đổ về phồn hoa đô hội để tiến thân bằng cách... hiến thân!
 
Tiến thân bằng cách hiến thân. Những từ ngữ ấy thật lạ lẫm đối với tôi, lần đầu tiên tôi nghe được, lại được thốt lên từ một giọng mỉa mai chua chát của cô gái giang hồ, khiến cho tôi thoáng rùng mình kinh sợ, lại thấy tim mình nhoi nhói vì một nỗi xót thương cho phận gái truân chuyên giữa dòng đời bát nháo... Tôi bàng hoàng, xót xa.
Cái đau đớn, tủi nhục, cùng cực của cô gái đã dập tắt những nỗi buồn nhẹ tênh, tự ái vặt vãnh trong tôi, dập tắt thật nhanh. Tôi quên đi chuyện mình vừa mới xích mích với chồng, chỉ còn biết trước mặt tôi là thân phận bèo dạt hoa trôi vô định, mang theo một ước ao bé nhỏ, nhưng không hề với tới được.


Tôi sờ ngực áo, rút ra mấy tờ giấy bạc polymer còn nằm nguyên từ chiều, trao hết qua tay cô gái. Cô gái không chút vui mừng, không vồn vã cũng không tỏ vẻ bất cần, thản nhiên nhận mấy tờ bạc, chẳng thèm đếm thử xem được bao nhiêu tiền, trên ba trăm nghìn đồng chứ đâu có ít, hỏi: 
- Còn chị thì sao đây? 
Tôi kể sơ qua chuyện mình. Cô gái cười sằng sặc nói: 
- Chị rõ khùng. Chỉ vì những chuyện nhỏ nhặt, vớ vẩn, mà dám bỏ đi khỏi tổ ấm gia đình của mình đang đầy ắp hạnh phúc. Chị hãy biết quý trọng những gì đang có được, chứ đừng làm hao hụt, uổng!
 
Tôi rùng mình, tỉnh ngộ. Cô gái cười mếu máo, nói tiếp: 
- Tôi cả đời cứ ước mơ có được tấm chồng, một mái ấm nghèo nát cũng được, rồi có đứa con. Vợ chồng có nhau trong đói khổ cũng vui. Hạnh phúc nhỏ nhoi, ước mơ nhỏ bé quá, mà sao cứ ở mãi trong chiêm bao mộng mị, không bao giờ nắm bắt được...
 
Tôi đứng dậy. Tôi phải về ngay. Cô gái vẫn tiếp tục: 
- Ngay từ giây phút này đây, tôi chỉ mong ước có một điều... 
Tôi khựng lại, hỏi: 
- Điều gì? 
Cười chua chát, cô gái thều thào: 
- Ước gì trong giờ giao thừa, có một chàng ngớ ngẩn nào đó, xấu xí cũng được, đần độn cũng được, nghèo rách cũng được, nhưng miễn là thương tôi, thích tôi, chịu dìu tôi về nhà, hai đứa sẽ cùng đón giao thừa, ăn ngủ với nhau, qua ba ngày Tết thật vui vẻ, rồi chia tay nhau cũng được, mà sống luôn với nhau thì càng tốt, quá hạnh phúc cho tôi. Nhưng điều này... lại là chiêm bao!
 
Tôi cảm thấy như vừa bị ai đó xát muối vào ruột gan mình. Nhắm mắt lại cho nước mắt rơi ra, rồi bước thật nhanh rời khỏi nơi cô gái ngồi, tôi băng băng về nhà mình... Anh ấy đã bồng bé Mi Mi đi đâu rồi. Chắc là anh ấy đang đi tìm tôi, tìm ở hướng ngược lại. Sao không chịu đi ra phố ngã sáu nhỉ?
Tôi tất tả băng đi trên đường vắng ngắt, mắt dáo dác ngó xa ngó gần, tìm hình bóng thân quen của chồng con. Không thấy đâu. Đã sắp đến giờ đón giao thừa rồi. Tôi bắt đầu bước như chạy ngược trở lại phố ngã sáu có bùng binh vòng xuyến. Phố im ắng. Bùng binh trơ trọi. Cô gái đã đi rồi.
Tôi ngơ ngác giữa phố khuya vào đêm cuối năm, bắt đầu tự chửi rủa mình. Chợt, từ xa một chiếc xích lô đang chở khách phóng lại. Xích lô thắng kít một bên tôi. Tôi trố mắt nhìn lên, nhận ra người ngồi trên xe là... cô gái khi nãy. Cô gái vui vẻ ra mặt, giọng cất lên cũng đầy sinh khí hỏi:

 
- Sao chưa chịu về nhà mà còn đứng sớ rớ ở đây nữa hả “bà”? 
Tôi ngạc nhiên nhìn cô gái, rồi nhìn anh xích lô nói: 
- Về rồi, nhưng anh ấy bồng con đi đâu mất tiêu... 
- Đi tìm chị chứ đi đâu. Mới thấy một ông bồng con đi lên đi xuống hớt hơ hớt hải ở dưới dốc kia kìa, chắc là anh ấy rồi. Về lẹ đi. Lẹ đi! 

 

Tôi mừng quá, định bước đi, nhưng chợt nhớ lại hỏi: 
- Chị bây giờ định đi đâu? 
- Đi về nhà ảnh, đón giao thừa với ảnh! 
Tôi nhìn anh xích lô bằng ánh mắt nghi ngại, nói tỉnh: 
- Coi chừng vợ người ta đánh ghen thì… mất ăn Tết đó! 
Anh xích lô cười ha hả vang rền cả trời khuya vắng, nói giọng oang oang: 
- Đừng lo. Tôi độc thân, chưa có vợ con gì, cũng chẳng có nhà cửa, cũng là dân bụi sống rày đây mai đó thôi! 
- Vậy bây giờ anh chở chị ấy đi đâu? 
- Về vỉa hè, về tổ ấm tạm bợ của tôi. Đón giao thừa hai đứa, ăn Tết một cặp một đôi, thì chắc là vui hơn một mình sô-lô rồi!
 
Cô gái cười hồn nhiên, nheo mắt với tôi, nói rổn rảng: 
- Ước gì được nấy rồi, còn gì sướng bằng? Thôi, đi nghen, chị về lẹ đi! Của báu ở ngay trong nhà mà không biết giữ!
 
Tôi ngẩn người ra đứng đó. “Của báu trong nhà”?. Tôi chợt nhớ đến câu kệ “Gia trung hữu bảo hưu tầm mích; Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền” (của báu trong nhà thôi tìm kiếm, đối cảnh vô tâm hỏi chi thiền), mà đầu óc sáng bừng lên.

 

Chiếc xích lô lăn bánh đi, chở theo một người bạn mới quen của tôi chạy về một nơi chốn nào đó thật mơ hồ. Nhưng có điều không mơ hồ chút nào, thấy rất rõ, là niềm hân hoan hớn hở đang tràn đầy và sáng rực trên nét mặt của cô gái giang hồ, và cả anh chàng đạp xích lô đen đủi xấu xí. Tôi đứng dõi mắt trông theo, thầm cầu chúc cho họ tận hưởng được không chỉ là giờ phút, hay ngày tháng, mà là những năm thật sự hạnh phúc, cho dù là hạnh phúc đơn sơ nhỏ bé. 
  
Chiếc xích lô khuất hẳn sau khúc quanh. Tôi trở về với chính mình. Và, tôi đi như chạy bằng đôi chân hỏng đất về hướng con dốc chạy xuống chợ. Chưa bao giờ tôi thèm khát nhào đến ôm chầm lấy chồng và con mình như trong giây phút này...

 

Back to Top

 

 

Chuyện Hay - Nhìn Người

NHÌN NGƯỜI


Có một giai thoại về đại học Stanford, “Một câu chuyện thật thú vị”, nội dung như sau:
Một phụ nữ trong bộ trang phục áo bằng vải lanh kẻ sọc và chồng mình trong bộ com-lê giản dị đã mòn xơ cả chỉ, xuống ga tàu ở thành phố Boston và rụt rè bước đi không hẹn trước tới văn phòng ở phía ngoài của đại học Harvard. Trong chốc lát cô thư ký có thể nói rằng những người ở nông thôn lạc hậu về văn hóa như thế không có việc gì phải bước chân vào đại học Harvard thậm chí còn không xứng đáng được vào đại học Cambridge.
Cô thư ký mặt mày cau có. Người đàn ông nói nhẹ nhàng:

 

- Chúng tôi muốn gặp thầy hiệu trưởng
Cô thư ký gắt gỏng lên:

 

- Ông ấy bận rộn cả ngày.
Người phụ nữ trả lời.

 

- Chúng tôi sẽ đợi.
Suốt nhiều giờ trôi qua, cô thư ký không thèm để ý đến họ, trong lòng hy vọng rằng hai người rốt cuộc sẽ nản lòng mà bỏ đi.
Nhưng hai người vẫn không đi. Và cô thư ký đã nản lòng, và cuối cùng quyết định phải quấy rầy vị hiệu trưởng, mặc dù đó là công việc thường ngày mà cô luôn luôn thấy ân hận mỗi khi làm. Cô nói với vị hiệu trưởng:

 

- Có thể nếu họ gặp được thầy ít phút họ sẽ đi ngay.
Vị hiệu trưởng thở dài bực tức, rồi gật đầu. Ai đó có vai trò quan trọng như ông ta thì rõ ràng là không có thời gian để tiếp họ, thế nhưng ông ghét cay ghét đắng chiếc áo vải lanh sọc và bộ com-lê đã sờn chỉ cứ phủ đầy bừa bãi căn phòng ở phía ngoài của ông ta.
Vị hiệu trưởng với gương mặt lạnh lùng đầy vẻ nghiêm nghị đi khệnh khạng về phía cặp vợ chồng. Người phụ nữ nói với vị hiệu trưởng:

 

- Chúng tôi có một đứa con trai đã từng theo học ở trường đại học Harvard một năm. Nó thực sự yêu mến ngôi trường này. Nó cảm thấy hạnh phúc khi học ở đây. Thế nhưng, cách đây một năm, nó đột nhiên bị giết chết. Và vợ chồng tôi rất muốn xây dựng một tấm bia để tưởng nhớ con trai mình ở một nơi nào đó trong khuông viên trường.
Vị hiệu trưởng không động đậy, ông đã bị sốc. Ông nói một cách thô lỗ cộc cằn:

 

- Thưa bà, chúng tôi không thể dựng tượng cho mỗi người đã từng theo học ở Harvard rồi sau đó bị chết. Nếu chúng tôi làm như vậy thì ngôi trường này sẽ trông giống như một nghĩa trang !
Người phụ nữ nhanh chóng giải thích:

 

- Ồ, không phải như vậy. Chúng tôi không có ý định xây dựng một bức tượng. Chúng tôi nghĩ sẽ xây một tòa nhà cho nhà trường.
Vị hiệu trưởng trợn tròn con mắt. Ông liếc nhìn chiếc áo vải lanh sọc và bộ com-lê đã sờn chỉ rồi thốt lên:

 

- Một tòa nhà ! Ông bà có tưởng tượng được một tòa nhà trị giá bao nhiêu không ? Chúng tôi phải đầu tư hơn 7 triệu rưỡi đô la cho xưởng thiết bị vật lý ở Harvard.
Người phụ nữ im lặng một lát. Vị hiệu trưởng có vẻ hài lòng. Bây giờ thì ông có thể rời khỏi họ. Người phụ nữ quay lại phía chồng và nói nhỏ:

 

- Bắt đầu xây một trường đại học tất cả chỉ tốn ngần ấy thôi sao ? Tại sao chúng ta không xây một trường đại học riêng ?
Người chồng gật đầu đồng ý.

 

Khuôn mặt của vị hiệu trưởng thượt ra đầy bối rối và lúng túng. Và ông bà Leland Stanford đã bỏ đi, đến thành phố Palo Alto, bang California, nơi đó họ lập nên trường đại học mang tên mình, một đài tưởng niệm để tưởng nhớ đứa con của mình mà trường Harvard không còn quan tâm đến nữa.

 

Back to Top

 

 

Câu Chuyện Cô Wendy

Mến gởi đến mọi người câu chuyện tình cảm không biết có thật hay không như rất hay :TÌNH YÊU KHÔNG BIÊN GIỚI

Buổi chiều ngày 24 tháng 12 năm 2004, Wendy, cô sinh viên năm thứ hai đại học Dược Khoa đang đứng đợi chuyến xe lửa dưới subway của thành phố NewYork để trở về nhà. Tất cả các anh chị em của cô đều hẹn là sẽ về nhà đúng 7 giờ để đoàn tụ trong buổi cơm chiều thân mật cùng cha mẹ theo truyền thống của gia đình họ Bỗng Wendy để ý đến một cặp nam nữ đang đứng cách cô vài bước, họ đang ra dấu bằng tay để giao lưu với nhau. Wendy hiểu được thuật ngữ ra dấu bằng tay vì trong những năm đầu đại học cô đã volunteer làm việc trong trường tiểu học dành cho người khuyết tật nên cô đã học được cách ra dấu tay để trò truyện với những người câm điếc. Vốn tính chịu khó học hỏi, Wendy đã khá thông thạo thuật ngữ này. Nhìn vào cách ra dấu của hai người khuyết tật ở trạm subway, Wendy đã "nghe lóm" được câu chuyện của hai người. Thì ra, cô gái câm hỏi thăm đường đến một nơi nào đó, nhưng chàng thanh niên câm thì "trả lời" là anh không biết nơi chốn đó. Wendy rất thông thạo đường xá trong khu vực nầy nên có mạnh dạn đứng ra chỉ dẫn cho cô gái. Dĩ nhiên cả ba đều dùng cách ra dấu bằng tay để "nói" trong câu chuyện của họ. Khi xe lửa đến trạm thì Wendy và hai người bạn mới quen đã kịp thời trau đổi emails address cho nhau.

Những ngày sau đó, ba người tiếp tục trò chuyện dùng phương tiện text messages của mobile phone rồi dần dà họ trở thành bạn thần giao cách cảm với nhau. Chàng trai kia tên là Jack và cô gái tên là Debbie. Jack cho biết anh đang làm việc cho một hãng xuất nhập khẩu và ở cách nhà Wendy một đổi không xa mấy. Từ những text messages, emais thăm hỏi xã giao lúc đầu, cả hai dần dần tiến đến chổ trở thành bạn thân lúc nào không hay. Đôi khi Jack đến trường đón và mời cô đi ăn. Cả hai thích khung cảnh êm đềm trong Central Park nên thường yên lặng đi bên nhau trong những giờ phút nghĩ ngơi. Tuy phải ra dấu để trò chuyện nhưng Wendy không cảm thấy bất tiện mà cô lại có dịp trau dồi "thủ thuật" để nghệ thuật ra dấu của cô càng lúc càng tinh xảo hơn. Đến mùa thu năm đó thì hai người đã thân thiết như một cặp tình nhân. Wendy đã quên hẳn Jack là một người khuyết tật, cho nên lần đầu tiên khi Jack ra dấu "I Love You" thì Wendy đã nhẹ nhàng ngả đầu vào vai anh.


Sau những giờ học, thỉnh thoảng Wendy cũng vào chatroom đấu láu với bạn bè, mỗi khi Wendy đặt câu hỏi "Bạn có thể fall in love với một người câm điếc hay không?" thì hình như không có bạn bè nào của cô có được câu trả lời dứt khoát. Điều này đã khiến cho Wendy bị dày dò không ít.

Vào dịp lễ Thanksgiving năm đó, Jack tặng cho Wendy một bó hoa hồng kèm theo câu ra dấu:  "Wendy có chịu làm girl friend của mình không?" Wendy vừa vui mừng vừa kinh ngạc nhưng sau đó là những sự mâu thuẫn khổ sở trong nội tâm. Wendy biết rõ là cô sẽ gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của những người thân. Quả nhiên cha mẹ cô khi biết rõ sự việc đã dùng đủ mọi phương thức để mong lôi kéo đứa con gái "lầm đường lạc lối" trở về. Thôi thì hết chú bác, cô dì, lại đến các anh chị em, bạn học, được cha mẹ có vận động tới để làm thuyết khách. Đứng trước áp lực này, Wendy chỉ có thể phân trần với gia đình về nhân cách cao cả của Jack, cô còn cho mọi người biết là thái độ lạc quan, đầu óc thực tế, tích cực của anh đã khiến cô cảm thấy gần gũi hơn những bạn trai mà cô đã từng quen biết trước đây.

Gia đình sau khi nghe có giải bày đã không còn quá khắc khe phê bình, mọi người dự định là sẽ gặp mặt Jack trước rồi mới có thể đánh giá cuộc tình của hai người. Cả nhà đồng ý là sẽ gặp mặt Jack vào trưa ngày 25 tháng 12 sau khi mọi người đã hưởng được một silent night bình yên cho tâm tư lắng đọng. Wendy đã có quyết định trong đầu, nếu như cha mẹ, anh chị của cô có những cử chỉ, hành động khinh miệt Jack thì cô và Jack sẽ đi đến nhà thờ để nhờ sự gia ơn và chúc lành của Thiên chúa. Trên đường dẫn Jack đến nhà, tâm trạng hồi hộp của của Wendy đã không thoát khỏi cặp mắt quan sát của Jack, anh mỉm cười ra dấu cho cô:

- Wendy yên tâm, bảo đảm với em là cha mẹ em sẽ hài lòng. Anh cho họ biết là anh sẽ thương yêu em, chăm sóc em suốt đời.
Đó là lần đầu tiên trong đời cô sinh viên trường thuốc rơi rớt những giọt lệ cảm động.
Vừa vào đến nhà, Wendy nắm tay Jack đi đến trước mặt cha mẹ, cô nói:

- Thưa ba má, đây là Jack, bạn trai mà còn thường nhắc đến.

Câu nói của cô vừa thốt ra thì tất cả những hộp kẹo bánh, hoa tươi trên tay Jack tức thời lộp độp rơi xuống đất, anh nhào tới ôm lấy cô vào vòng tay khỏe mạnh của anh. Một điều mà Wendy không thể ngờ được là cô bổng nghe một giọng nói thảng thốt phát ra từ  miệng của Jack:
- Trời đất, em biết nói à?
Đó cũng chính là câu mà Wendy muốn hỏi Jack.

Mọi người ngoại cuộc đều ngẩn ngơ ngạc nhiên trong khi hai người trong cuộc thì ôm nhau cười, nói, la, hét, nhảy nhót như điên dại. Thì ra Jack cứ ngỡ Wendy là một cô gái câm thế mà anh vẫn sinh lòng quyến luyến mà còn muốn tiếp tục đi đến hôn nhân. Wendy cũng tự hào có quyết định sáng suốt vì đã chọn được người tình trong mộng tuyệt vời nhất thế gian.

Sưu tầm

 

Back to Top

 

 

Con Người Chỉ Vĩ Đại Khi Cầu Nguyện

Federic Ozanam, nhà hoạt động xã hội nổi tiếng của Giáo Hội Pháp vào cuối thế kỷ 19 đã trải qua một cơn khủng hoảng Đức Tin trầm trọng lúc còn là một sinh viên đại học.


Một hôm, để tìm một chút thanh thản cho tâm hồn, anh bước vào một ngôi thánh đường cổ ở Paris. Đứng cuối Nhà Thờ, anh nhìn thấy một bóng đen đang quỳ cầu nguyện cách sốt sắng ở dãy ghế đầu. Đến gần, chàng sinh viên mới nhận ra người đang cầu nguyện ấy không ai khác hơn là nhà bác học Ampère.
Anh đứng lặng lẽ một lúc để theo dõi cử chỉ của nhà bác học. Và khi vừa đứng lên ra khỏi giáo đường, người sinh viên đã theo gót ông về cho đến phòng làm việc của ông.


Thấy chàng thanh niên đang đứng trước cửa phòng với dáng vẻ rụt rè, nhà bác học liền lên tiếng hỏi: “Anh bạn trẻ, anh cần gì đó? Tôi có thể giúp anh giải một bài toán vật lý nào không?”
Chàng thanh niên đáp một cách nhỏ nhẹ: “Thưa Thầy, con là một sinh viên khoa văn chương. Con dốt khoa học lắm, xin phép Thầy cho con hỏi một vấn đề liên quan đến Đức Tin!”


Nhà bác học mỉm cười cách khiêm tốn: “Anh lầm rồi, Đức Tin là môn yếu nhất của tôi. Nhưng nếu được giúp anh điều gì, tôi cũng cảm thấy hân hạnh lắm?”
Chàng sinh viên liền hỏi: “Thưa Thầy, có thể vừa là một bác học vĩ đại, vừa là một tín hữu cầu nguyện bình thường không?” Nhà bác học ngỡ ngàng trước câu hỏi của người sinh viên, và với đôi môi run rẩy đầy cảm xúc, ông trả lời:

“Con ơi, chúng ta chỉ vĩ đại khi chúng ta cầu nguyện mà thôi!”

 

Back to Top

 

 

Louis Pasteur - Nhà Bác Học Thiên Tài - Một Tâm Hồn Khiêm Tốn và Cầu Nguyện

Trên tuyến xe lửa đi về Paris, có một thanh niên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cử chỉ của cụ già với vẻ bực bội.
Sau một hồi lâu, xem chừng không thể chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng: “Thưa Ông, Ông vẫn còn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?”


Cụ già thản nhiên trả lời: “Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?” Người thanh niên xấc xược trả lời: “Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi Ông sẽ thấy rằng những gì Ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.”

 

Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên: “Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?” Người sinh viên nhanh nhẩu trả lời: “Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho ông, rồi ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.”
 
Cụ già từ từ rút ra trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi: Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris.

 

Back to Top